Bài viết phân tích giới hạn chuyển hóa dữ liệu địa chất, đo đạc, sản xuất, kế toán, định giá và giám định thành chứng cứ hình sự; khảo cứu một số bản án đã công bố; đồng thời đề xuất mô hình chuỗi chứng minh gồm sáu mắt xích: tình trạng pháp lý, không gian khai thác, đối tượng khoáng sản, khối lượng thực tế, giá trị và các chỉ tiêu kinh tế, hành vi và lỗi của từng chủ thể. Một con số chuyên môn chỉ đủ sức làm căn cứ buộc tội khi có thể kiểm tra được nguồn dữ liệu, phương pháp hình thành, biên độ sai số và con đường quy thuộc kết quả đó cho hành vi cụ thể.
1. Đặt vấn đề
Trong một vụ án hình sự thông thường, vật chứng có thể được thu giữ, niêm phong, giám định và xuất trình tại phiên tòa. Trong vụ án khoáng sản, đối tượng cần chứng minh thường đã bị tách khỏi trạng thái tự nhiên, vận chuyển, sàng tuyển, chế biến hoặc tiêu thụ trước khi hành vi bị phát hiện. Cơ quan tiến hành tố tụng vì vậy phải tái dựng sự kiện từ địa hình khai trường, bản đồ hiện trạng, mặt cắt địa chất, dữ liệu cân đo, nhật ký phương tiện, hóa đơn, chứng từ kế toán, sản lượng tiêu thụ, dữ liệu điện tử và lời khai của người có liên quan.
Kết luận về khối lượng khoáng sản bị khai thác trái phép hiếm khi chỉ là kết quả của một phép đo trực tiếp. Về bản chất, đó thường là quá trình suy ngược từ nhiều nhóm dữ liệu được hình thành cho các mục đích khác nhau. Dữ liệu địa chất phục vụ mô hình hóa thân khoáng và thiết kế khai thác; số liệu kế toán phản ánh giao dịch; đo đạc phản ánh hiện trạng tại một thời điểm. Trong khi đó, Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 đòi hỏi phải chứng minh hành vi phạm tội, người thực hiện, lỗi, hậu quả và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án.
Bài viết đặt ra hai câu hỏi: Dữ liệu địa chất và dữ liệu quản lý có thể được sử dụng đến đâu để chứng minh khối lượng khoáng sản bị khai thác trái phép; và những điều kiện nào phải được đáp ứng trước khi kết quả đo đạc, giám định hoặc định giá được dùng để xác định trách nhiệm hình sự của một cá nhân?
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, phân tích tình huống, đối chiếu dữ liệu kỹ thuật và khảo cứu một số bản án hình sự được công bố. Các bản án được lựa chọn để minh họa những con đường xác định loại khoáng sản, khối lượng, giá trị và vai trò của các chủ thể, không được coi là mẫu đại diện cho toàn bộ thực tiễn xét xử.
Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), cùng các văn bản hướng dẫn tạo khuôn khổ mới cho điều tra địa chất, thăm dò, phân cấp tài nguyên, trữ lượng và quản lý khai thác. Tuy nhiên, một số liệu phù hợp với quản lý chuyên ngành không đương nhiên đáp ứng tiêu chuẩn chứng minh hình sự. Theo các Điều 86, 87 và 108 BLTTHS, thông tin chỉ có giá trị chứng cứ khi được thu thập đúng trình tự, được kiểm tra về tính hợp pháp, xác thực và liên quan. Kết luận giám định và định giá là nguồn chứng cứ quan trọng nhưng không có giá trị chứng minh được xác định trước.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
2. Không thể đồng nhất trữ lượng với khối lượng đã khai thác
2.1. Trữ lượng là kết quả mô hình hóa
Trữ lượng khoáng sản được xác định từ công trình thăm dò, tài liệu địa chất, mẫu phân tích, phương pháp nội suy và các chỉ tiêu tính trữ lượng. Dù tuân thủ quy chuẩn chuyên môn, kết quả vẫn là một mô hình khoa học được xây dựng từ số lượng hữu hạn điểm quan sát. Thân khoáng trong tự nhiên không đồng nhất; chiều dày, hàm lượng, đất đá kẹp, độ ẩm và điều kiện phân bố có thể thay đổi giữa các vị trí.
Vì vậy, chênh lệch giữa trữ lượng được phê duyệt và số liệu phát sinh khi khai thác chưa tự thân chứng minh hành vi khai thác vượt phép. Trước khi chuyển chênh lệch thành khối lượng buộc tội, cần loại trừ sai số của mô hình ban đầu, biến đổi cấu tạo thân khoáng, tổn thất khai thác và chế biến, khác biệt trạng thái vật chất, sai số đo đạc và sự không đồng nhất về thời điểm kiểm kê.
Phép tính trữ lượng ban đầu trừ trữ lượng còn lại chỉ đáng tin khi hai đại lượng được hình thành trên nền tảng kỹ thuật tương thích. Nếu số liệu ban đầu là trữ lượng địa chất đã phê duyệt còn số liệu cuối kỳ được suy ra từ một lần đo hiện trạng, chênh lệch có thể phản ánh cả khác biệt phương pháp và dữ liệu đầu vào, chứ không chỉ phần khoáng sản đã bị lấy đi.
2.2. Bốn đại lượng không thể dùng thay thế cho nhau
Cần phân biệt: (i) trữ lượng tồn tại trong lòng đất được xác định qua thăm dò và mô hình hóa; (ii) khối lượng nguyên khai được đưa khỏi vị trí khai thác, có thể gồm khoáng sản, đất đá kẹp, tạp chất và độ ẩm; (iii) khối lượng sau sàng tuyển hoặc chế biến; và (iv) khối lượng thương phẩm đạt tiêu chuẩn nhập kho, xuất bán hoặc sử dụng.
Giữa các đại lượng có hệ số chuyển đổi nhưng hệ số không thể được giả định hoặc lựa chọn theo hướng bất lợi nếu thiếu mẫu đối chứng, dữ liệu vận hành và căn cứ khoa học. Sản lượng bán ra có thể gồm tồn kho kỳ trước hoặc nguồn mua hợp pháp; ngược lại, khối lượng nguyên khai thường lớn hơn sản lượng thương phẩm do hao hụt và vật chất thải loại.
2.3. Yêu cầu chứng minh khác nhau theo từng nhóm khoáng sản
2.3.1. Cát lòng sông
Cát lòng sông có tính dịch chuyển; hình thái đáy sông biến đổi do dòng chảy, bồi lắng, xói lở, mùa mưa lũ và hoạt động của nhiều chủ thể. Kết quả đo sâu tại thời điểm điều tra không phải lúc nào cũng phản ánh hiện trạng tại thời điểm hành vi xảy ra. Muốn quy phần thiếu hụt thành khối lượng khai thác trái phép phải chứng minh các lần đo cùng hệ tọa độ, cao độ và phạm vi; loại trừ biến động tự nhiên và hoạt động của chủ thể khác; đồng thời xác định thời gian, giới hạn pháp lý và người thực hiện.
Khi cát đã được vận chuyển, khối lượng có thể được tái dựng từ số chuyến, dung tích khoang, mớn nước, phiếu cân hoặc sổ giao nhận. Dung tích thiết kế chỉ thể hiện sức chứa tối đa, không chứng minh mỗi chuyến đều đầy. Công thức số chuyến nhân dung tích cần được kiểm tra chéo bằng mớn nước, thời gian bơm hút, nhật ký vận hành hoặc dữ liệu giao nhận độc lập. Bản án số 158/2025/HSST ngày 17/7/2025 của TAND tỉnh Thanh Hóa ghi nhận việc xác định 1.123,5 m³ cát theo từng đợt khai thác, bán. Cách tái dựng này chỉ có thể sử dụng cho vụ việc khác khi lượng giao nhận được kết nối với nguồn gốc cát và hành vi của từng người liên quan.
2.3.2. Đá khai thác lộ thiên
Đá nguyên khối và đá sau nổ mìn, xúc bốc, nghiền sàng không có cùng thể tích. Khoảng rỗng làm thể tích vật liệu tăng sau phá vỡ; quá trình nghiền sàng tạo đá hộc, đá dăm, cấp phối, bột đá và phần thải. Vì vậy, khoảng trống địa hình không đồng nhất với đá thương phẩm; tổng sản phẩm cũng không thể quy đổi ngược nếu chưa xác định khối lượng thể tích, hệ số nở rời, tỷ lệ thu hồi, đất phủ, đá phong hóa, tồn kho và nguồn mua ngoài.
2.3.3. Đất sét và đất san lấp
Vật chất đào lên trong dự án san nền hoặc cải tạo mặt bằng có thể gồm tầng phủ, đất phong hóa, đất sét, đất lẫn đá hoặc vật liệu xây dựng thông thường. Không phải toàn bộ thể tích hố đào đều có cùng tính chất và giá trị. Việc suy rộng đòi hỏi làm rõ chiều dày từng lớp, sự phân bố, vị trí và độ sâu lấy mẫu, tính đại diện, tỷ lệ đất đá và khối lượng thực tế đưa vào sản xuất hoặc tiêu thụ.
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TAND tỉnh Hòa Bình xác định khối lượng đất đã sử dụng từ sản lượng gạch trên cơ sở thực nghiệm: 10 m³ đất nguyên liệu sản xuất được 11.760 viên gạch mộc, từ đó sử dụng tỷ lệ 1.176 viên/m³ để suy ngược khối lượng đất, rồi cộng 2.747 m³ tồn kho. Bản án cũng định giá đất sét làm gạch tại khu vực khai thác, không tính chi phí khai thác và chi phí khác. Cách làm này cho thấy vai trò của thực nghiệm, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi về tính đại diện của một lần thực nghiệm đối với nguyên liệu, dây chuyền và điều kiện sản xuất kéo dài qua nhiều thời điểm.
Một bản án phúc thẩm số 15/2025/HS-PT được công bố năm 2025 ghi nhận sự khác biệt lớn giữa tiền bán đất sét và các khoản chi cho khai thác, nhân công. Tình tiết này chỉ gợi mở yêu cầu phân biệt giá trị khoáng sản, doanh thu, lợi nhuận và thu lợi bất chính; không có nghĩa mọi chi phí khai thác đều đương nhiên được khấu trừ. Việc xác định khoản nào được trừ phụ thuộc chỉ tiêu pháp lý đang xem xét, tính hợp pháp của khoản chi và căn cứ áp dụng trong từng vụ án.
2.3.4. Thạch anh cát trắng silic và khoáng sản phụ thuộc hàm lượng
Đối với khoáng sản có công dụng và giá trị phụ thuộc mạnh vào thành phần hóa học, tên gọi vật chất chưa đủ xác định giá trị. Hàm lượng SiO₂, Fe₂O₃, Al₂O₃, kích thước hạt và tạp chất có thể quyết định cát phù hợp cho kính, khuôn đúc, gốm sứ hay chỉ có công dụng thấp hơn. Vật chất chứa thạch anh cũng không đương nhiên là quặng thạch anh có chất lượng thương mại đồng nhất.
Không thể định giá toàn bộ khối cát nguyên khai theo đơn giá cát trắng silic đạt chuẩn công nghiệp chỉ từ một số ít mẫu có hàm lượng SiO2 cao. Cần kiểm tra mạng lưới, độ sâu và phương pháp lấy mẫu, tính đại diện, tỷ lệ thu hồi, mức độ tuyển rửa và trạng thái vật chất tại thời điểm khai thác. Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 24/4/2025 của TAND tỉnh Yên Bái, liên quan khai thác thạch anh, sử dụng kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự để nhận diện mẫu vật. Kết luận mẫu là khoáng sản trả lời mẫu đó là gì; muốn suy rộng cho toàn bộ khối vật chất còn phải chứng minh tính đại diện và sự đồng nhất tương đối của thân khoáng.
3. Chuỗi chứng minh khoáng sản trong tố tụng hình sự
Để tránh chuyển thẳng từ số liệu kỹ thuật sang kết luận buộc tội, có thể thiết lập chuỗi gồm sáu mắt xích. Mỗi mắt xích trả lời một câu hỏi độc lập; sự chắc chắn ở khâu này không thể bù cho khoảng trống ở khâu khác.
3.1. Tình trạng pháp lý của hoạt động khai thác
Cần xác định hiệu lực giấy phép tại thời điểm hành vi; loại khoáng sản, diện tích, tọa độ, độ sâu, cao trình, công suất và trữ lượng được phép; thiết kế, phương pháp khai thác; trường hợp thu hồi khoáng sản trong dự án và trường hợp không phải cấp phép. Phải phân biệt khai thác hoàn toàn không phép, khai thác ngoài ranh giới hoặc độ sâu, khai thác loại khoáng sản không được phép, với việc khai thác trong phạm vi mỏ nhưng vượt công suất, sai thiết kế hoặc vi phạm nghĩa vụ báo cáo, tài chính. Các vi phạm này không đương nhiên có cùng bản chất pháp lý.
3.2. Không gian khai thác
Kết luận khai thác ngoài phạm vi chỉ đáng tin khi khu vực vi phạm được đặt trên cùng hệ quy chiếu với giấy phép. Phải đối chiếu hệ tọa độ, mốc giới, cao trình, độ sâu, sai số thiết bị và biến động địa hình. Một hố khai thác tại thời điểm khám nghiệm không tự chứng minh toàn bộ thể tích do một cá nhân hoặc doanh nghiệp tạo ra; hiện trạng có thể tích lũy qua nhiều giai đoạn, nhiều chủ thể và cả hoạt động hợp pháp lẫn bất hợp pháp.
3.3. Nhận diện đối tượng khoáng sản
Phải làm rõ loại khoáng sản, thành phần, chất lượng, hàm lượng có ích, tạp chất, trạng thái nguyên khai hay đã chế biến và tính đại diện của mẫu. Câu hỏi tố tụng không dừng ở mẫu gửi giám định là gì, mà còn phải trả lời mẫu đại diện đến đâu cho khối lượng được dùng để xác định trách nhiệm hình sự.
3.4. Khối lượng thực tế
Khối lượng có thể được xác định từ đo hiện trạng, nhật ký, trạm cân, phương tiện, hóa đơn, phiếu kho, hình ảnh, định vị hoặc lời khai. Mỗi nguồn chỉ phản ánh một lát cắt. Cần xác định phương pháp chính, kiểm tra chéo bằng nguồn độc lập và công khai sai số. Khi các phương pháp cho kết quả chênh lệch đáng kể, không thể lựa chọn kết quả cao nhất nếu không giải thích căn cứ khoa học và loại trừ hợp lý khả năng thấp hơn.
3.5. Xác định giá trị và các chỉ tiêu kinh tế
Giá trị khoáng sản phụ thuộc loại, chất lượng, trạng thái, độ ẩm, tạp chất, thời điểm, địa điểm và mức độ chế biến. Nếu khối lượng được xác định ở trạng thái nguyên khai nhưng đơn giá áp dụng cho sản phẩm đã tuyển, phép tính không tương thích. Phải phân biệt giá trị khoáng sản với doanh thu, lợi nhuận và thu lợi bất chính; không dùng một dòng tiền để đồng thời thay thế các chỉ tiêu có nội hàm pháp lý khác nhau.
Khi chất lượng không đồng nhất, trước hết phải phân nhóm chất lượng và khối lượng tương ứng. Nếu dữ liệu chỉ cho phép xác định trong một biên độ, kết luận chuyên môn phải công khai biên độ; còn giá trị dùng trong tố tụng phải được xác định đúng trình tự định giá và được đánh giá cùng các chứng cứ khác.
3.6. Xác định hành vi lỗi và trách nhiệm của từng chủ thể
Ngay cả khi xác định được tổng khối lượng khai thác trái phép, trách nhiệm không tự động phân bổ cho mọi người trong doanh nghiệp. Việc quy thuộc cần được kiểm tra qua ba tầng. Thứ nhất, quy thuộc vật chất: phần khoáng sản nào thuộc hành vi đang xét. Thứ hai, quy thuộc hành vi: ai quyết định, tổ chức, trực tiếp thực hiện hoặc giúp sức. Thứ ba, quy thuộc lỗi: người đó biết gì về giấy phép, ranh giới, loại khoáng sản và tính trái phép của hoạt động.
Đối với từng cá nhân phải chứng minh thời gian tham gia, phạm vi quyền hạn, mệnh lệnh hoặc hành động cụ thể, khối lượng có thể quy thuộc, dòng tiền và khả năng nhận biết giới hạn giấy phép. Chức danh chỉ là điểm bắt đầu xác minh. Trách nhiệm hình sự không được phân bổ theo sơ đồ tổ chức của doanh nghiệp mà phải dựa trên chứng cứ về hành vi, vai trò đồng phạm và trạng thái nhận thức của từng người.
3.7. Ba nhóm chứng cứ cần kết nối
Có thể chia dữ liệu thành: (i) chứng cứ vật chất gồm mẫu khoáng sản, địa hình, tồn kho và đo đạc; (ii) chứng cứ về dòng vận động gồm dữ liệu phương tiện, trạm cân, phiếu nhập xuất, hóa đơn và giao nhận; (iii) chứng cứ quy thuộc gồm mệnh lệnh, phân công, dữ liệu liên lạc, dòng tiền và thời gian tham gia. Nhóm thứ nhất giúp xác định vật chất và biến đổi; nhóm thứ hai tái dựng đường đi; nhóm thứ ba nối sự kiện với người liên quan. Một vụ án có thể chắc ở nhóm đầu nhưng có thể vẫn thiếu ở nhóm cuối.

4. Giới hạn của kết luận chuyên môn và bốn bước chuyển hóa
Kết luận giám định và định giá phải được kiểm tra, đánh giá theo Điều 108 BLTTHS như các chứng cứ khác. Có thể phân biệt tầng nhận diện kỹ thuật, tầng tính toán và tầng pháp lý. Chuyên gia có thể xác định mẫu là khoáng sản gì hoặc tính thể tích theo phương pháp chuyên môn; việc phần vật chất đó có nằm ngoài phạm vi giấy phép và do ai cố ý khai thác trái phép là kết luận pháp lý phải dựa trên tổng thể chứng cứ.
4.1. Từ mẫu vật đến thân khoáng
Kết quả giám định chỉ có thể suy rộng khi việc lấy mẫu bảo đảm tính đại diện. Kết luận cần thể hiện vị trí, độ sâu, số lượng, phương pháp lấy mẫu, bảo quản, niêm phong và phạm vi đại diện. Một mẫu cát có hàm lượng SiO₂ cao hay một mẫu đất sét không tự chứng minh toàn bộ khu vực có cùng tính chất.
4.2. Từ biến đổi địa hình đến khối lượng
Đo hiện trạng xác định không gian bị biến đổi. Để chuyển thành khối lượng khoáng sản phải loại trừ đất phủ, tạp chất, phế thải, biến động tự nhiên và phần khai thác hợp pháp. Với cát phải xét bồi lắng, xói lở; với đá phải xử lý hệ số nở rời; với đất sét phải phân lớp vật chất.
4.3. Từ khối lượng đến giá trị
Chỉ có thể nhân khối lượng với đơn giá khi trạng thái vật chất tương thích với đối tượng định giá. Không dùng giá cát đã tuyển cho cát nguyên khai, giá đá thành phẩm cho đá nguyên khối hoặc giá gạch cho đất sét tại mỏ. Khi chất lượng khác nhau, cần phân nhóm và xác định khối lượng tương ứng thay vì áp đơn giá cao nhất cho toàn bộ.
4.4. Từ kết quả chung đến trách nhiệm cá nhân
Tổng khối lượng tại một khu vực không tự trở thành khối lượng phạm tội của từng người. Cần tách theo thời gian tham gia, phạm vi chỉ đạo, phương tiện, nhân công, số chuyến hoặc khối lượng kiểm chứng được, dòng tiền và nhận thức. Nếu không tách được, việc quy toàn bộ kết quả cho tất cả người tham gia có nguy cơ làm mờ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm và suy đoán vô tội theo Điều 13 BLTTHS.
5. Dữ liệu điện tử trong chuỗi chứng minh
Dữ liệu GPS, camera khai trường, trạm cân, thiết bị giám sát hành trình, nhật ký điện tử, dữ liệu máy xúc hoặc máy bơm hút, ảnh vệ tinh và flycam có thể giúp xác định thời gian, vị trí, tần suất và dòng vận động của khoáng sản. Tuy nhiên, giá trị của dữ liệu phụ thuộc nguồn tạo lập, tính toàn vẹn, thời điểm trích xuất, người quản lý hệ thống và khả năng đối chiếu với chứng cứ khác.
Ảnh vệ tinh có thể cho thấy biến đổi bề mặt nhưng không tự xác định loại khoáng sản hoặc người tạo ra biến đổi. Dữ liệu định vị có thể cho thấy phương tiện xuất hiện tại khu vực nhưng không tự chứng minh phương tiện đã vận chuyển bao nhiêu khoáng sản. Vì vậy, dữ liệu điện tử là mắt xích kiểm tra chéo, không phải lối tắt thay thế việc chứng minh nguồn gốc, khối lượng và chủ thể.
6. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế chứng minh
6.1. Chuẩn hóa quy trình xác định khối lượng
Cần có hướng dẫn liên ngành về bảo toàn hiện trường và dữ liệu không gian; thống nhất hệ tọa độ, cao trình và thời điểm đo; lập sơ đồ lấy mẫu; phân biệt nguyên khối, nguyên khai và thương phẩm; công khai hệ số quy đổi, dữ liệu đầu vào và biên độ sai số; kiểm tra chéo bằng ít nhất một nguồn độc lập khi điều kiện vụ án cho phép.
6.2. Xây dựng phụ lục hướng dẫn phương pháp theo từng nhóm khoáng sản
Không nên áp dụng một quy trình cơ học cho mọi khoáng sản. Hướng dẫn cần có phụ lục cho cát, sỏi lòng sông; đá lộ thiên; đất sét, đất san lấp; than; cát trắng silic, thạch anh, kaolin; và quặng kim loại. Mỗi nhóm cần xác định nguồn dữ liệu ưu tiên, yêu cầu lấy mẫu, hệ số quy đổi, biên độ sai số, trạng thái định giá và phương pháp kiểm tra nguồn gốc.
6.3. Tách riêng câu hỏi giám định và câu hỏi pháp lý
Quyết định trưng cầu nên tách câu hỏi về nhận diện vật chất, phương pháp xác định khối lượng và vị trí khối lượng trong tương quan với ranh giới giấy phép. Người giám định trả lời vấn đề chuyên môn trong phạm vi được trưng cầu; cơ quan tiến hành tố tụng chịu trách nhiệm đánh giá phần nào là hành vi trái phép và quy thuộc cho ai.
6.4. Công khai sai số và xử lý trường hợp giáp ngưỡng
Kết quả hình thành từ đo đạc, nội suy hoặc quy đổi phải thể hiện biên độ sai số. Khi biên độ bao trùm cả mức dưới và mức trên của ngưỡng định tội hoặc định khung, việc lựa chọn mức bất lợi hơn chỉ có thể được chấp nhận nếu có chứng cứ độc lập đủ tin cậy để loại trừ khả năng thấp hơn. Nếu không thể làm sáng tỏ bằng các biện pháp hợp pháp, nghi ngờ phải được đánh giá theo nguyên tắc suy đoán vô tội.
6.5. Bảo đảm khả năng phản biện chuyên môn
Người bị buộc tội và người bào chữa cần được tiếp cận bản đồ, tọa độ, số liệu đo, vị trí lấy mẫu, bảng tính, hệ số quy đổi và tài liệu định giá; được đề nghị giám định bổ sung, giám định lại và triệu tập người giám định, người định giá hoặc chuyên gia tại phiên tòa theo quy định tố tụng. Tranh tụng về con số không thể thực chất nếu dữ liệu tạo ra con số không được công khai.
6.6. Đánh giá chứng cứ theo chuỗi
Một mắt xích còn thiếu không thể được bù bằng sự chắc chắn của mắt xích khác. Thể tích hố khai thác không thay thế chứng cứ về người thực hiện; hóa đơn không thay thế chứng cứ nguồn gốc; chức danh quản lý không thay thế chứng cứ về lỗi. Chỉ khi sáu mắt xích kết nối hợp lý, kết quả cuối cùng mới đủ độ tin cậy để định tội và định khung.
7. Kết luận
Rủi ro trong vụ án khoáng sản không chỉ là tính sai một con số, mà còn là sử dụng đúng một con số trong sai quan hệ pháp lý. Trữ lượng không đương nhiên là khối lượng đã khai thác; nguyên khai không đồng nhất với thương phẩm; doanh thu không tự đồng nhất với thu lợi bất chính; biến đổi địa hình không tự chỉ ra người tạo ra biến đổi. Mỗi bước chuyển cần một cầu nối chứng cứ độc lập và có thể kiểm tra.
Chuỗi sáu mắt xích không nhằm làm phức tạp hoạt động chứng minh mà giúp nhìn rõ con đường từ dữ liệu chuyên môn đến kết luận pháp lý. Khoa học địa chất có thể cho biết dưới lòng đất có gì và hiện còn gì. Để kết luận ai chịu trách nhiệm hình sự, pháp luật còn phải chứng minh vật chất bị lấy đi khi nào, bằng hành vi nào, trong giới hạn pháp lý nào và với nhận thức ra sao.
Trong vụ án hình sự về khoáng sản, một con số chỉ thực sự trở thành chứng cứ khi có thể nhìn thấy con đường hình thành của nó. Nếu con đường ấy bị che khuất bởi giả định kỹ thuật chưa được kiểm chứng, độ chính xác bề ngoài không thể thay thế sự chắc chắn mà trách nhiệm hình sự đòi hỏi.
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung.
2. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung.
3. Quốc hội (2012), Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13, được sửa đổi, bổ sung.
4. Quốc hội (2024), Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung.
5. Chính phủ (2025), Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản.
6. Chính phủ (2026), Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 193/2025/NĐ-CP.
7. TAND tỉnh Hòa Bình, Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 27/11/2024.
8. TAND tỉnh Yên Bái, Bản án hình sự phúc thẩm số 08/2025/HS-PT ngày 24/4/2025.
9. TAND tỉnh Thanh Hóa, Bản án hình sự sơ thẩm số 158/2025/HSST ngày 17/7/2025.
Luật sư PHAN KHẮC NGHIÊM
Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế
Bài đăng trên tạp chí Luật sư Việt Nam





