Kiểm soát sai số kỹ thuật khi xác định sản lượng và giá trị khoáng sản trong tố tụng hình sự

Trong vụ án hình sự về khoáng sản, sản lượng và giá trị khoáng sản được xác định là đối tượng của hành vi bị cáo buộc thường được thể hiện bằng những con số cụ thể. Tuy nhiên, các con số đó có thể được hình thành từ nhiều lớp dữ liệu như đo địa hình, mô hình địa chất, khối lượng thể tích, độ ẩm, tỷ lệ đất đá lẫn, hệ số thu hồi, tài liệu theo dõi qua từng thời kỳ và căn cứ xác định giá. Mỗi lớp dữ liệu đều có giới hạn riêng. Vấn đề pháp lý đặt ra không chỉ là lựa chọn đúng phương pháp chuyên môn, mà còn là đánh giá độ tin cậy của kết quả trước khi sử dụng để định tội danh, định khung hình phạt hoặc quyết định hậu quả pháp lý khác.

Bài viết phân biệt sai số đo, độ không đảm bảo đo và giới hạn do mô hình hoặc dữ liệu thiếu; phân tích tầng sai số khi chuyển từ sản lượng sang giá trị; đồng thời đề xuất bảng kiểm soát nguồn sai số như một công cụ hỗ trợ kiểm tra kết luận chuyên môn. Trên cơ sở đó kiến nghị công khai dữ liệu đầu vào, phân tích độ nhạy và chỉ sử dụng phần kết quả đã được chứng minh bằng tài liệu có thể kiểm tra, đối chiếu.

1. Con số cụ thể không đồng nghĩa với kết quả chính xác

Trong hồ sơ vụ án hình sự về khoáng sản, kết luận về sản lượng thường xuất hiện dưới dạng một giá trị cụ thể, đôi khi chính xác đến hàng đơn vị hoặc phần thập phân. Hình thức ấy tạo cảm giác khách quan. Tuy nhiên, số chữ số của kết quả không đồng nghĩa với mức độ chắc chắn của phép tính. Nếu thể tích được dựng từ bề mặt nội suy, khối lượng thể tích lấy từ một số mẫu hữu hạn và tỷ lệ khoáng sản có ích được ước tính theo tài liệu địa chất, kết quả cuối cùng vẫn mang theo giới hạn của từng dữ liệu đầu vào.

Trong quản lý mỏ, sai số hoặc độ không đảm bảo trong phạm vi cho phép có thể được chấp nhận cho mục đích thống kê, thiết kế mỏ hoặc điều hành khai thác. Trong tố tụng hình sự, kết quả ấy có thể được dùng để đối chiếu với dấu hiệu định lượng của cấu thành tội phạm hoặc khung hình phạt. Vì vậy, mức độ kiểm tra phải tương xứng với hậu quả pháp lý mà con số có thể tạo ra.

Việc đánh giá không nên dừng ở câu hỏi kết luận chuyên môn đúng hay sai. Cần làm rõ dữ liệu nào được đo trực tiếp, dữ liệu nào được nội suy; kết quả phụ thuộc vào những giả định nào; nếu thay đổi một thông số trong phạm vi có căn cứ thì kết quả có thay đổi đáng kể hay không. Đây là điểm gặp nhau giữa khoa học đo lường, chuyên môn địa chất – khai thác mỏ và yêu cầu đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự [1].

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.

2. Từ độ không đảm bảo đo đến bảng kiểm soát nguồn sai số

Trong khoa học đo lường, độ không đảm bảo đo dùng để biểu thị mức độ phân tán của các giá trị có thể được quy cho đại lượng cần đo [2]. Khái niệm này khác với sai số, là chênh lệch giữa giá trị đo và giá trị tham chiếu. Độ không đảm bảo đo cũng không bao quát mọi hạn chế của chứng cứ, chẳng hạn tài liệu bị thiếu, nguồn dữ liệu không rõ hoặc không thể tách sản lượng theo từng thời kỳ [3].

Vì vậy, bài viết không sử dụng một thuật ngữ kỹ thuật để thay thế việc đánh giá chứng cứ. Thay vào đó, có thể xây dựng bảng kiểm soát nguồn sai số. Đây là công cụ liệt kê dữ liệu đầu vào, phương pháp xử lý, nguồn có thể làm kết quả sai lệch, mức độ ảnh hưởng dự kiến và cách kiểm tra. Bảng này hỗ trợ việc đọc và phản biện kết luận chuyên môn; nó không tự tạo ra chứng cứ và không thay thế thẩm quyền đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng.

Khi xác định khối lượng bị cho là khai thác ngoài phạm vi được phép, bảng kiểm soát có thể xem xét độ chính xác của tọa độ và cao độ; cách dựng bề mặt trước và sau khai thác; ranh giới thân khoáng; khối lượng thể tích; độ ẩm; hệ số nở rời; tỷ lệ đất đá kẹp; tỷ lệ thu hồi; hàng tồn kho và nguồn nguyên liệu hợp pháp khác. Không phải vụ án nào cũng có đầy đủ các yếu tố này. Yếu tố nào thực sự được sử dụng trong phép tính thì phải nêu rõ nguồn, cách lựa chọn và khả năng kiểm tra.

Cách tiếp cận này không nhằm tìm ra con số có lợi cho một bên. Mục đích là xác định con số nào có cơ sở vững hơn, phần nào được chứng minh trực tiếp và phần nào còn phụ thuộc vào giả định. Nhờ đó, tranh tụng có thể tập trung vào chất lượng dữ liệu và phương pháp thay vì chỉ đối chiếu hai kết quả khác nhau.

Kiểm soát sai số kỹ thuật khi xác định sản lượng và giá trị khoáng sản trong tố tụng hình sự - 2

3. Nguồn sai số không chỉ nằm ở thiết bị đo

Sai số thường được liên tưởng đến độ chính xác của máy toàn đạc, thiết bị định vị hoặc cân điện tử. Tuy nhiên, trong việc xác định sản lượng khoáng sản, chênh lệch lớn đôi khi phát sinh từ cách dựng mô hình, phân loại vật chất hoặc ghép dữ liệu của nhiều thời kỳ, chứ không chỉ từ thiết bị.

Sai số đo có thể phát sinh khi xác định tọa độ, cao độ, khoảng cách, thể tích hoặc khối lượng. Khả năng đo của thiết bị, tình trạng hiệu chuẩn, mốc khống chế và điều kiện hiện trường đều phải được xem xét. Thiết bị có độ chính xác cao vẫn không bảo đảm kết quả đúng nếu mốc khống chế sai, điểm đo không đủ đại diện hoặc hiện trạng đã thay đổi trước khi đo.

Chênh lệch do mô hình xuất hiện khi các điểm đo hữu hạn được dùng để dựng bề mặt, các lỗ khoan được dùng để khoanh thân khoáng hoặc hiện trạng cuối kỳ được dùng để tái lập địa hình ban đầu. Nhiều mô hình có thể cùng phù hợp với một tập dữ liệu nhưng tạo ra kết quả thể tích khác nhau. Vì vậy, thuật toán, mật độ điểm, kích thước ô lưới và cách xử lý vùng thiếu dữ liệu cần được giải thích.

Chênh lệch do phân loại phát sinh khi xác định vật chất nào là khoáng sản, đất phủ, đá kẹp, quặng nghèo, chất thải hoặc sản phẩm sau chế biến. Đây không đơn thuần là sự sai số số học. Nếu phân loại không đúng, phần đất đá bị dịch chuyển có thể bị tính thành khoáng sản có ích hoặc ngược lại.

Giới hạn về thời gian xuất hiện khi dữ liệu ở các mốc khác nhau được ghép vào cùng một kỳ trách nhiệm. Hiện trạng đo ở thời điểm sau có thể phản ánh hoạt động của nhiều giai đoạn, nhiều người quản lý hoặc cả tác động tự nhiên. Nếu không tách được diễn biến theo thời gian, kết quả tổng hợp chưa đủ để quy toàn bộ khối lượng cho một hành vi hay một chủ thể cụ thể.

Dữ liệu thiếu là một vấn đề khác với sai số đo. Khi không có bản đồ nền, nhật ký không liên tục hoặc mẫu vật không còn, không phải lúc nào cũng có thể quy đổi phần thiếu đó thành một tỷ lệ phần trăm. Giới hạn này phải được nêu rõ; không nên dùng một giả định chưa được kiểm chứng để lấp khoảng trống rồi xem giả định ấy như dữ kiện.

4. Sai số tích lũy và giới hạn của một kết quả duy nhất

Thể tích, khối lượng thể tích và tỷ lệ khoáng sản có ích đều có thể dao động trong những phạm vi khác nhau. Nếu chỉ lấy giá trị trung bình của từng yếu tố rồi nhân với nhau, kết quả cuối cùng tuy gọn nhưng có thể che khuất ảnh hưởng tổng hợp của các nguồn sai số. Với một khu vực mỏ lớn, thay đổi nhỏ của hệ số cũng có thể tạo ra chênh lệch đáng kể.

Không phải mọi nguồn sai số đều được cộng cơ học. Có nguồn độc lập, có nguồn cùng xuất phát từ một bộ dữ liệu và có sai lệch hệ thống theo một hướng. Việc kết hợp phải dựa trên mô hình phù hợp, được người có chuyên môn giải thích và có khả năng tái lập [4]. Trường hợp chưa đủ điều kiện tính toán độ không đảm bảo theo phương pháp đo lường, kết luận cần mô tả rõ giới hạn thay vì đưa ra một độ chính xác không có cơ sở.

Một kết quả ghi đến hàng đơn vị hoặc phần thập phân chưa chắc đáng tin hơn một khoảng giá trị được giải thích đầy đủ. Tuy nhiên, khoảng kết quả cũng chỉ có ý nghĩa khi cách xác định giới hạn trên, giới hạn dưới có căn cứ. Việc công bố khoảng giá trị không làm yếu kết luận; nó giúp cơ quan tiến hành tố tụng hiểu đúng mức độ chắc chắn mà phương pháp cho phép.

5. Phân tích độ nhạy khi kết quả gần ngưỡng pháp lý

Phân tích độ nhạy là việc xem xét kết quả thay đổi thế nào khi một dữ liệu hoặc giả định được điều chỉnh trong phạm vi hợp lý. Công cụ này đặc biệt hữu ích khi sản lượng, giá trị khoáng sản hoặc khoản thu lợi được dùng để đối chiếu với dấu hiệu định lượng của tội phạm hay khung hình phạt [5].

Nếu chỉ cần thay đổi một hệ số trong phạm vi kết quả mẫu đã có mà kết quả chuyển từ dưới lên trên ngưỡng áp dụng, cơ quan tiến hành tố tụng cần thận trọng và tiếp tục kiểm tra dữ liệu chi phối. Ngược lại, nếu các phương án có căn cứ đều cho kết quả vượt ngưỡng với khoảng cách rõ ràng, kết luận có độ ổn định cao hơn. Phân tích độ nhạy không quyết định có tội hay không; nó cho biết kết quả phụ thuộc vào yếu tố nào và mức độ phụ thuộc ra sao.

Phân tích độ nhạy còn giúp tập trung hoạt động điều tra và giám định. Nếu độ ẩm ít ảnh hưởng nhưng cách khoanh ranh giới thân khoáng làm kết quả thay đổi lớn, việc kiểm tra nên tập trung vào tài liệu địa chất, mẫu và phương pháp khoanh nối thay vì tranh luận kéo dài về một hệ số thứ yếu.

Kết quả phân tích nên được trình bày trong phụ lục chuyên môn. Mỗi phương án phải nêu nguồn dữ liệu, lý do lựa chọn và mức ảnh hưởng đến kết quả; không nên xây dựng các kịch bản tùy ý chỉ để đạt một con số định trước.

6. Từ sản lượng đến giá trị khoáng sản là một tầng kiểm tra độc lập

Việc xác định được sản lượng chưa tự động dẫn đến một giá trị pháp lý duy nhất. Để chuyển từ khối lượng sang giá trị, cần tiếp tục làm rõ loại khoáng sản, hàm lượng hoặc chất lượng, trạng thái nguyên khai hay sau tuyển, chế biến, thời điểm và địa bàn xác định giá, điều kiện giao nhận cùng các yếu tố cấu thành mức giá được sử dụng. Một sai lệch nhỏ về phân loại chất lượng hoặc thời điểm giá có thể tạo ra chênh lệch lớn dù sản lượng không thay đổi.

Trong tố tụng hình sự, cần phân biệt giá trị khoáng sản với thiệt hại và thu lợi bất chính. Đây là những đại lượng có mục đích chứng minh và phương pháp xác định khác nhau. Giá trị của khoáng sản không đương nhiên bằng doanh thu bán hàng; doanh thu cũng không đồng nhất với khoản lợi ích thực tế mà chủ thể thu được. Nếu điều luật hoặc hậu quả pháp lý cần đối chiếu sử dụng đại lượng nào thì hoạt động định giá, giám định và thu thập chứng cứ phải hướng đúng vào đại lượng đó, tránh thay thế bằng một con số gần nghĩa nhưng khác bản chất.

Việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự phải tuân thủ Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị định số 250/2025/NĐ-CP về thành lập, hoạt động của Hội đồng định giá tài sản, trình tự và thủ tục định giá tài sản [6]. Kết luận định giá cần chỉ rõ đối tượng, đặc điểm kinh tế – kỹ thuật, thời điểm, địa điểm, phương pháp và nguồn thông tin về giá. Trường hợp sản lượng được xác định theo một khoảng có căn cứ, kết quả định giá cũng cần phản ánh tác động của khoảng sản lượng đó thay vì nhân một giá đơn vị với một con số duy nhất rồi thể hiện như giá trị chắc chắn.

Nguồn giá cần có khả năng kiểm tra và phải tương thích với đối tượng được định giá. Giá bán của sản phẩm đã qua tuyển, chế biến không thể được áp trực tiếp cho khoáng sản nguyên khai nếu chưa loại trừ phần giá trị gia tăng, hao hụt và chi phí hợp lý của các công đoạn sau khai thác. Tương tự, bảng giá phục vụ thuế, phí hoặc quản lý nhà nước chỉ có thể được sử dụng trong tố tụng hình sự khi phù hợp với mục đích định giá và đặc điểm của tài sản cụ thể; việc một mức giá đã được dùng trong quản lý chuyên ngành không làm cho mức giá đó đương nhiên trở thành giá trị của vật chứng hoặc thiệt hại trong vụ án.

Bảng kiểm soát nguồn sai số vì vậy phải theo dõi đồng thời hai chuỗi: chuỗi hình thành sản lượng và chuỗi hình thành giá trị. Mỗi chuỗi có dữ liệu đầu vào, giả định và giới hạn riêng. Chỉ khi cả hai chuỗi đều có thể kiểm tra, kết quả cuối cùng mới đủ cơ sở để đối chiếu với ngưỡng định tội, định khung hoặc xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự.

7. Xử lý kết quả có sai số khi đối chiếu với ngưỡng pháp lý

Các dấu hiệu định lượng trong pháp luật hình sự tạo ra ranh giới áp dụng điều luật hoặc khung hình phạt. Trong khi đó, kết quả kỹ thuật có thể được thể hiện bằng một khoảng giá trị. Vấn đề khó phát sinh khi khoảng giá trị có căn cứ nằm ở cả hai phía của ngưỡng pháp lý.

Theo các Điều 13 và 15 Bộ luật Tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội theo trình tự luật định thì phải kết luận người bị buộc tội không có tội [7]. Đồng thời, Điều 108 yêu cầu mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá về tính hợp pháp, xác thực và liên quan; người tiến hành tố tụng phải đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập. Từ các nguyên tắc đó, phần kết quả còn phụ thuộc vào một nguồn sai số có thật và chưa được làm rõ không thể mặc nhiên được sử dụng để xác lập dấu hiệu bất lợi hơn. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tiếp tục kiểm tra hoặc chỉ sử dụng phần kết quả đã có đủ căn cứ chứng minh.

Điều này không có nghĩa phải chấp nhận giá trị thấp nhất do một bên đưa ra. Nghi ngờ phải xuất phát từ dữ liệu, phương pháp hoặc giới hạn chuyên môn có thật. Một giả định không có căn cứ không làm giảm giá trị của kết luận; nhưng một nguồn sai số có khả năng làm thay đổi ngưỡng và chưa được giải quyết thì phải được xem xét trong tổng thể chứng cứ.

Kết quả xác định sản lượng có thể được sử dụng cho nhiều mục đích như quản lý mỏ, xác định nghĩa vụ tài chính, xử phạt hành chính hoặc giải quyết vụ án hình sự [8]. Việc một số liệu đã được dùng trong quản lý chuyên ngành không làm cho số liệu đó đương nhiên có đủ giá trị chứng minh trong vụ án. Khi sử dụng trong tố tụng hình sự, nguồn, trình tự thu thập, phương pháp và khả năng kiểm tra của số liệu vẫn phải được đánh giá theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

8. Kết luận chuyên môn phải nêu cả phạm vi và giới hạn

Một kết luận chuyên môn đáng tin cậy không chỉ nêu phương pháp và kết quả, mà còn phải cho biết điều kiện áp dụng, dữ liệu đầu vào và những vấn đề phương pháp chưa thể khẳng định. Cần phân biệt dữ liệu quan sát, giả định chuyên môn, phép tính và nhận định pháp lý. Theo Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 và Bộ luật Tố tụng hình sự, người giám định kết luận trong phạm vi chuyên môn được trưng cầu và chịu trách nhiệm về kết luận của mình; việc đánh giá hành vi có cấu thành tội phạm, lỗi của từng người và tội danh áp dụng thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng [9].

Tùy đối tượng và phương pháp, kết luận nên thể hiện nguồn dữ liệu; điều kiện đo, lấy mẫu; phương pháp dựng mô hình; hệ số chuyển đổi; kết quả; độ không đảm bảo đo nếu có đủ cơ sở xác định; phân tích độ nhạy khi cần thiết; và các yếu tố chưa thể loại trừ. Không nên gọi mọi giới hạn của dữ liệu là độ không đảm bảo đo. Trường hợp không thể lượng hóa, cần mô tả bản chất và chiều hướng ảnh hưởng của giới hạn đó.

Quyền tranh tụng chỉ thực chất khi người tham gia tố tụng có điều kiện kiểm tra con đường hình thành kết luận. Bảng tọa độ, tệp mô hình, sơ đồ vị trí lấy mẫu, hệ số và công thức là những tài liệu quan trọng để đối chiếu. Việc tiếp cận các tài liệu này được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng về hồ sơ, chứng cứ và quyền của người tham gia tố tụng.

Khi nội dung kết luận chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới, việc giám định bổ sung cần tập trung vào đúng phần thiếu hoặc vấn đề mới; khi có nghi ngờ kết luận lần đầu không chính xác, việc giám định lại phải thực sự kiểm tra được dữ liệu và phương pháp. Thay đổi tổ chức giám định nhưng vẫn sử dụng nguyên dữ liệu thiếu và giả định cũ chưa chắc tạo ra một sự kiểm tra độc lập có ý nghĩa[10].

9. Sai số kỹ thuật và việc cá thể hóa trách nhiệm

Giới hạn của dữ liệu không chỉ ảnh hưởng đến tổng sản lượng mà còn ảnh hưởng đến khả năng phân bổ sản lượng theo thời kỳ và chủ thể. Nếu khoảng trống giữa hai lần đo kéo dài qua thời gian quản lý của nhiều người, không thể mặc nhiên chia đều hoặc quy toàn bộ phần biến đổi cho người giữ chức vụ tại thời điểm phát hiện.

Cần phân biệt việc chưa xác định chính xác quy mô với chứng cứ về lỗi. Một người có thể biết việc mở rộng khai trường nhưng không biết chính xác khối lượng; điều đó không tự loại trừ trách nhiệm nếu các yếu tố cấu thành khác được chứng minh. Ngược lại, việc doanh nghiệp có sản lượng vượt phạm vi cho phép không tự chứng minh cán bộ kỹ thuật, kế toán hoặc đơn vị tư vấn đều cùng ý chí với người ra quyết định.

Bảng kiểm soát nguồn sai số vì thế cần gắn với thời gian và chủ thể: phần sản lượng nào được xác định trong từng giai đoạn; dữ liệu nào chỉ phản ánh toàn kỳ; ai có thẩm quyền và khả năng chi phối hoạt động khai thác; chứng cứ nào thể hiện việc biết, chỉ đạo, che giấu hoặc hưởng lợi. Chỉ khi phần vật chất được nối với hành vi và lỗi, kết quả kỹ thuật mới góp phần làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân.

10. Kiến nghị hoàn thiện việc kiểm tra kết quả kỹ thuật

Thứ nhất, cần nghiên cứu hướng dẫn liên ngành về yêu cầu tối thiểu đối với việc xác định sản lượng và giá trị khoáng sản trong vụ án hình sự. Khi kết quả gần ngưỡng định tội hoặc định khung, kết luận chuyên môn phải nêu nguồn sai số có ảnh hưởng đáng kể, phạm vi kết quả có căn cứ và phân tích độ nhạy khi phù hợp. Việc chuyển từ sản lượng sang giá trị phải chỉ rõ loại, chất lượng, trạng thái khoáng sản, thời điểm định giá, nguồn giá và phương pháp xử lý các công đoạn sau khai thác.

Thứ hai, có thể chuẩn hóa phụ lục bảng kiểm soát nguồn sai số. Phụ lục nên thể hiện dữ liệu đầu vào, nguồn tài liệu, phương pháp xử lý, yếu tố có thể gây sai lệch, mức ảnh hưởng dự kiến và cách kiểm tra. Đây là tài liệu hỗ trợ minh bạch hóa phương pháp, không thay thế kết luận giám định hoặc hoạt động đánh giá chứng cứ.

Thứ ba, khi kết quả có căn cứ nằm ở cả hai phía của ngưỡng pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ nguồn chênh lệch. Phần chưa được chứng minh đầy đủ không nên được dùng riêng lẻ để xác lập dấu hiệu định tội hoặc định khung bất lợi hơn cho người bị buộc tội.

Thứ tư, dữ liệu số về hiện trạng mỏ cần được lưu cùng thông tin về thiết bị, người thực hiện, hệ tọa độ, thời điểm đo và lịch sử chỉnh sửa. Tính toàn vẹn và khả năng truy nguyên dữ liệu cần được bảo đảm ngay từ quá trình quản lý, thay vì chỉ tìm cách khôi phục sau khi vụ án xảy ra.

Thứ năm, cần tăng cường kiến thức liên ngành cho người giám định và người tiến hành tố tụng về sai số đo, độ không đảm bảo đo, giới hạn của mô hình và phân tích độ nhạy. Hiểu được con số được tạo ra thế nào quan trọng không kém việc đọc con số cuối cùng.

Kết luậnTrong vụ án hình sự về khoáng sản, không phải mọi phần chưa biết đều có thể chuyển thành một con số; cũng không phải mọi con số đều có cùng giá trị chứng minh. Số chữ số thể hiện trên kết quả không thể thay thế cho sự minh bạch của dữ liệu và phương pháp.

Bảng kiểm soát nguồn sai số giúp chuyển trọng tâm từ việc lựa chọn con số có lợi cho một bên sang kiểm tra con số nào có cơ sở vững hơn. Công cụ này yêu cầu chỉ rõ nguồn dữ liệu, cách chuyển đổi, yếu tố có thể gây sai lệch và giới hạn của kết quả. Tuy nhiên, bảng kiểm soát chỉ hỗ trợ đánh giá; giá trị của từng tài liệu và kết luận cuối cùng vẫn phải được xem xét trong tổng thể chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Bảo vệ tài nguyên đòi hỏi phát hiện và xử lý nghiêm hành vi cố ý khai thác trái pháp luật. Bảo vệ công lý đồng thời đòi hỏi không biến phần khoa học chưa thể xác định thành dữ kiện chắc chắn của lời buộc tội. Hai yêu cầu này không đối lập; chúng cùng đòi hỏi một quá trình chứng minh khách quan, có thể kiểm tra và đúng với giới hạn của phương pháp.

[1]. Xem thêm Phan Khắc Nghiêm, “Chuỗi chứng minh trong vụ án khoáng sản: Từ dữ liệu địa chất đến trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, 2026.

[2]. JCGM, International Vocabulary of Metrology – Basic and General Concepts and Associated Terms (VIM), 3rd edition, mục 2.26 (measurement uncertainty).

[3]. JCGM, VIM, 3rd edition, mục 2.16 (measurement error) và mục 2.33 (uncertainty budget).

[4]. JCGM, Guide to the Expression of Uncertainty in Measurement (GUM); JCGM GUM-1:2023, Guide to the Expression of Uncertainty in Measurement – Part 1: Introduction.

[5]. Điều 227 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung, về tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; việc xác định đại lượng và ngưỡng cụ thể còn phụ thuộc tội danh, tình tiết và hậu quả pháp lý được xem xét trong từng vụ án.

[6]. Chính phủ, Nghị định số 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

[7]. Điều 13, Điều 15 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung; Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026.

[8]. Quốc hội, Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 147/2025/QH15; Chính phủ, Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP; Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thông tư số 36/2025/TT-BNNMT.

[9]. Quốc hội, Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 ngày 05/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026; xem đồng thời các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trưng cầu, yêu cầu và kết luận giám định.

[10]. Điều 210 và Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định tương ứng về giám định bổ sung và giám định lại.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung.

2. Quốc hội, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung; Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026.

3. Quốc hội, Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.

4. Quốc hội, Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15; Luật số 147/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản.

5. Chính phủ, Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP.

6. Chính phủ, Nghị định số 250/2025/NĐ-CP quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

7. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thông tư số 36/2025/TT-BNNMT quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản.

8. JCGM, International Vocabulary of Metrology – Basic and General Concepts and Associated Terms (VIM), 3rd edition, các mục 2.16, 2.26 và 2.33.

9. JCGM, Guide to the Expression of Uncertainty in Measurement (GUM); JCGM GUM-1:2023, Guide to the Expression of Uncertainty in Measurement – Part 1: Introduction.

10. Phan Khắc Nghiêm, “Chuỗi chứng minh trong vụ án khoáng sản: Từ dữ liệu địa chất đến trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, 2026.

Luật sư PHAN KHẮC NGHIÊM

Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế

Bài đăng trên tạp chí luật sư Việt Nam