SỬA LUẬT THƯƠNG MẠI: CẦN LÀM RÕ LUẬT ÁP DỤNG CHO HỢP ĐỒNG

Một bản hợp đồng có thể được thương lượng trong nhiều tháng, tính kỹ từng khoản tiền, từng thời hạn, từng nghĩa vụ, từng chế tài đi kèm tương ứng tại từng điều khoản. Nhưng khi tranh chấp phát sinh, điều đầu tiên cần làm rõ đôi khi lại là việc xác định xem luật nào điều chỉnh. Sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại vì thế cần giúp các thương nhân dự liệu được quyền, nghĩa vụ và hậu quả vi phạm ngay từ khi giao kết.

Mặc dù một số điều khoản đã được sửa đổi, bổ sung cục bộ thông qua các luật có liên quan và được hệ thống hóa tại Văn bản hợp nhất số 113/VBHN-VPQH ngày 27 tháng 8 năm 2025, nhưng Luật Thương mại năm 2005 đến nay vẫn chưa trải qua một lần sửa đổi toàn diện, đặc biệt đối với hệ thống quy định về hợp đồng, chế tài thương mại và mối quan hệ với Bộ luật Dân sự. Vì vậy, điều người viết muốn tập trung bàn trong bài viết này là hoàn thiện cơ chế điều chỉnh hợp đồng trong lần sửa đổi sắp tới.

Bản dự thảo lần hai đăng ngày 27/8/2026 trên Cổng dự thảo của Quốc hội, tại khoản 9 Điều 1, bãi bỏ nhiều quy định về hợp đồng, trong đó có toàn bộ Chương VII về chế tài và giải quyết tranh chấp. Điều 4 về áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan không nằm trong nội dung sửa đổi tại Điều 1. Điều 5 dự thảo chưa có quy định chuyển tiếp riêng cho hợp đồng. Những điểm này cần được xem xét cùng nhau, bởi việc bãi bỏ quy định trùng lặp chưa đồng nghĩa với việc giải quyết xong vấn đề luật áp dụng.

Từ tên hợp đồng đến vấn đề cần giải quyết

Điều 4 Luật Thương mại quy định quan hệ với luật điều chỉnh hoạt động thương mại đặc thù và Bộ luật Dân sự. Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định Bộ luật là luật chung, đồng thời quy định cơ chế áp dụng khi luật khác không quy định hoặc trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.

Trong giao dịch hợp tác đầu tư, chẳng hạn, quy định chuyên ngành về điều kiện thực hiện dự án không nhất thiết phải giải quyết cả trách nhiệm do chậm góp vốn. Người viết cho rằng cần phân biệt ưu tiên quy định chuyên ngành với việc loại trừ toàn bộ một đạo luật. Ngược lại, mục đích sinh lợi cũng chưa đủ để bỏ qua phạm vi chủ thể hoặc quy định dẫn chiếu của luật chuyên ngành.

Vì thế, không nên khẳng định máy móc theo một thứ tự mặc định “Luật Đầu tư – Luật Thương mại – Bộ luật Dân sự” cho mọi hợp đồng. Mà việc xác định luật phải gắn với vấn đề đang giải quyết: điều kiện giao dịch, thực hiện nghĩa vụ hay hậu quả của hành vi vi phạm. Tên gọi “hợp tác”, “góp vốn” hoặc “dịch vụ” không thể tự quyết định toàn bộ hệ thống quy định áp dụng cho hợp đồng.

Người viết xin kiến nghị sửa Điều 4 theo hướng: quy định chuyên ngành được ưu tiên đối với vấn đề cụ thể mà quy định đó điều chỉnh; vấn đề chưa được điều chỉnh áp dụng quy định còn hiệu lực của Luật Thương mại nếu thuộc phạm vi áp dụng, sau đó áp dụng Bộ luật Dân sự; bảo lưu trường hợp luật có quy định dẫn chiếu khác. Đây là hướng đề xuất lập pháp, không phải diễn giải rằng pháp luật hiện hành đã giải quyết rõ mọi trường hợp.

Còn với hợp đồng hỗn hợp, cần hướng dẫn áp dụng quy định tương ứng cho phần nghĩa vụ có thể tách biệt, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của phần không thể tách rời. Hợp đồng có yếu tố nước ngoài còn phải được xem xét theo điều ước quốc tế và quy tắc xác định pháp luật áp dụng.

Khác luật áp dụng dẫn tới khác về hậu quả pháp lý

Điều 301 Luật Thương mại 2005 giới hạn mức phạt thông thường là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, trừ quy định tại Điều 266. Khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự cho phép thỏa thuận mức phạt, trừ khi luật liên quan quy định khác. Vì vậy việc bãi bỏ Điều 301 không chỉ là việc giản lược văn bản, mà nó còn thay đổi cả về giới hạn cam kết trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng.

Quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng khác. Khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại cho phép áp dụng cả hai khi có thỏa thuận phạt, trừ trường hợp luật này quy định khác. Khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự lại quy định: nếu chỉ thỏa thuận phạt, không thỏa thuận đồng thời bồi thường, bên vi phạm chỉ phải chịu phạt. Do đó, nếu chuyển sang Bộ luật Dân sự có thể khiến cùng một điều khoản nhưng lại mang hậu quả khác với điều các chủ thể dự liệu khi ký kết hợp đồng.

Người viết đề nghị, nếu bãi bỏ Chương VII, cần đồng thời thiết kế quy tắc mặc định cho hợp đồng thương mại: thỏa thuận phạt không loại trừ quyền yêu cầu bồi thường, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Quy tắc này phải được quy định rõ ở văn bản thay thế hoặc điều khoản bổ sung; không thể chỉ kỳ vọng vào việc tự điều chỉnh trong thực tiễn. Việc bỏ trần phạt cần đi cùng đánh giá tác động và cơ chế kiểm soát thỏa thuận áp đặt, nhất là đối với hợp đồng theo mẫu.

Đối với bồi thường định trước, nên nghiên cứu công nhận khoản tiền hoặc công thức do các bên thỏa thuận để lượng hóa tổn thất có thể dự liệu. Quy định mới cần xác định nghĩa vụ chứng minh vi phạm, điều kiện phát sinh trách nhiệm; cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp điều chỉnh khoản tiền bất hợp lý theo tiêu chí luật định; ngăn bồi thường trùng cho cùng tổn thất. Bồi thường vượt khoản định trước chỉ nên được yêu cầu khi có căn cứ luật định hoặc thỏa thuận cho phép và chứng minh phần tổn thất bổ sung. Đây là kiến nghị xây dựng cơ chế mới, không phải khẳng định mọi thỏa thuận hiện nay đều đương nhiên được công nhận.

Lãi chậm trả và thời hiệu cũng cần được xử lý cụ thể. Điều 306 Luật Thương mại sử dụng lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường trong trường hợp điều luật quy định, còn Bộ luật Dân sự có cơ chế tại Điều 357 và Điều 468. Điều 319 Luật Thương mại quy định thời hiệu khởi kiện thông thường hai năm từ khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; Điều 429 Bộ luật Dân sự quy định ba năm từ khi người có quyền biết hoặc phải biết sự xâm phạm. Không thể coi đây chỉ là thay đổi về  số năm, mà cả căn cứ tính và thời điểm bắt đầu tính thời hiệu đều cần phải đối chiếu.

Thống nhất pháp luật phải bảo đảm tính liên tục

Với từng quy định dự kiến bãi bỏ, hồ sơ xây dựng luật cần có bảng đối chiếu quy định thay thế, nội dung thay đổi và trường hợp chưa được bao quát. Riêng lãi chậm trả phải làm rõ loại nghĩa vụ, cơ sở xác định lãi và giới hạn thỏa thuận. Với thời hiệu, cần xác định quan hệ với thời hiệu trọng tài và các ngoại lệ chuyên ngành, tránh suy luận mọi tranh chấp đều chuyển sang thời hiệu là ba năm.

Cũng cần đối chiếu quy định về chuyển rủi ro, kiểm tra hàng hóa, tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Các cơ chế có tên gọi hoặc hậu quả khác nhau không nên được xem là tương đương chỉ vì cùng xử lý một vi phạm. Nếu quy định thay thế chưa đủ, nên giữ quy định cần thiết đến khi hoàn thiện đồng bộ.

Điều 5 của bản dự thảo đang được đối chiếu mới xử lý chuyển tiếp về giấy phép ngoại thương và hồ sơ thông báo tập trung kinh tế; chưa giải quyết riêng hợp đồng đã giao kết. Người viết kiến nghị bổ sung nguyên tắc: hợp đồng ký trước ngày luật mới có hiệu lực tiếp tục được điều chỉnh bởi pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm do vi phạm, trừ trường hợp luật quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận chuyển đổi hợp pháp, không ảnh hưởng quyền của người thứ ba.

Quy định chuyển tiếp cần phân biệt hợp đồng cũ được sửa đổi với hợp đồng mới thay thế; bảo toàn quyền yêu cầu đã phát sinh; quy định riêng cách xử lý trong trường hợp khi thời hiệu đang còn và đã hết. Không nên lấy riêng ngày khởi kiện để lựa chọn luật nội dung, cũng không nên để việc thay đổi thời hiệu mặc nhiên khôi phục một yêu cầu đã hết thời hiệu. Đây là những lựa chọn lập pháp cần ghi rõ ngay trong luật.

Để các chủ thể giao kết hợp đồng biết luật ngay từ khi ký

Sửa luật cần phân biệt quy định bắt buộc với quy định chỉ áp dụng khi các bên không có thỏa thuận khác. Việc ghi “áp dụng Bộ luật Dân sự” trong hợp đồng không tự loại bỏ quy định bắt buộc của luật chuyên ngành. Quyền thỏa thuận chỉ có ý nghĩa khi các bên giao kết biết giới hạn và hậu quả của lựa chọn.

Cơ quan giải quyết tranh chấp cũng cần giải thích căn cứ lựa chọn quy phạm và phạm vi loại trừ quy phạm khác. Tổng kết xét xử nên chỉ rõ vướng mắc nào cần sửa luật, vướng mắc nào cần hướng dẫn; không nên biến nhận định trong một vụ án thành quy tắc chung cho mọi hợp đồng mang cùng tên gọi.

Người viết cho rằng giá trị của lần sửa đổi này cần được đo bằng khả năng dự liệu: khi ký hợp đồng, các bên biết quy định nào điều chỉnh, cam kết được bảo vệ đến đâu và việc đổi luật ảnh hưởng thế nào. Làm rõ Điều 4, hoàn thiện cơ chế thay thế và bổ sung chuyển tiếp cho hợp đồng là ba việc cần tiến hành đồng thời.

Luật sư Phan Khắc Nghiêm

Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế