Cá thể hóa trách nhiệm hình sự sau khi khắc phục hậu quả trong vụ án kinh tế

Trong vụ án kinh tế có nhiều người bị buộc tội, kết quả khắc phục hậu quả có thể được thực hiện bằng nguồn lực của cá nhân, pháp nhân hoặc người hưởng lợi trực tiếp. Vấn đề đặt ra là kết quả phục hồi tài sản chung được ghi nhận như thế nào khi điều kiện áp dụng pháp luật phải được đánh giá riêng đối với từng người.

Tóm tắt: Bằng phương pháp phân tích quy phạm, đối chiếu pháp luật chung với cơ chế tại Nghị quyết số 37/2026/QH16 và phân tích tình huống, bài viết phân biệt kết quả khắc phục, sự tự nguyện của cá nhân và điều kiện hưởng chính sách đặc thù. Bài viết đề xuất cách đánh giá theo từng căn cứ pháp lý, tránh đồng nhất việc khắc phục toàn bộ thiệt hại với việc mọi người tham gia đều đủ điều kiện không bị truy cứu hoặc miễn trách nhiệm hình sự; đồng thời kiến nghị hướng dẫn việc ghi nhận khắc phục do người khác thực hiện và lập luận riêng trong quyết định tố tụng.

Từ khóa: cá thể hóa trách nhiệm hình sự; vụ án kinh tế; khắc phục hậu quả; đồng phạm; miễn trách nhiệm hình sự.

Individualisation of Criminal Liability after Reparation in Economic Crime Cases

Abstract: In economic criminal cases involving multiple participants, harm may be remedied using resources provided by individuals, legal entities or direct beneficiaries. The question is how a common outcome of reparation should be recognised when the legal conditions must be assessed separately for each participant. Through doctrinal analysis, comparison of the general legal framework with the special mechanisms under Resolution No. 37/2026/QH16, and analysis of published legal commentary and hypothetical scenarios, this article distinguishes the outcome of reparation, individual voluntariness and eligibility for special treatment. It proposes an assessment grounded in the relevant legal basis, preventing full reparation from being equated with every participant qualifying for non-prosecution or exemption from criminal liability. It also recommends guidance on reparation made by third parties and individualised reasoning in procedural decisions. Reparation is assessed without allowing payment capacity to replace proof of conduct, fault and participation. The proposed approach recognises restored assets while preserving the distinct conditions governing mitigation, exemption and special procedural measures.

Keywords: individualisation of criminal liability; economic criminal cases; reparation; complicity; exemption from criminal liability.


Ảnh minh hoạ

1. Đặt vấn đề và phạm vi nghiên cứu

Trong một vụ án kinh tế có nhiều người bị buộc tội, thiệt hại thường được xác định bằng một con số. Con số ấy cần thiết cho việc định tội danh, định khung hình phạt, giải quyết trách nhiệm dân sự và thu hồi tài sản. Nhưng phía sau một kết quả chung có thể là những con người ở vị trí rất khác nhau: người đề xuất, người quyết định, người tham mưu, người thực hiện và người hưởng lợi. Khi thiệt hại được khắc phục bằng một khoản tiền chung, câu hỏi không chỉ là tài sản đã được phục hồi bao nhiêu, mà còn là kết quả đó có ý nghĩa pháp lý gì đối với từng người.

Cá thể hóa trách nhiệm hình sự đòi hỏi xác định hành vi, lỗi và vai trò của từng người từ khi xem xét căn cứ truy cứu. Trong vụ án có nhiều người, khó khăn nằm ở việc kết quả khắc phục có thể chung cho vụ việc, còn điều kiện giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm lại gắn với từng chủ thể. Bài viết tập trung làm rõ sự khác biệt này để tránh áp dụng cùng một hệ quả cho những người có vị trí pháp lý khác nhau.

Trong các nghiên cứu liên quan, tác giả Lê Thị Vân Anh phân tích ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý vi phạm dân sự, kinh tế, hành chính, nhấn mạnh yêu cầu minh bạch hóa cấu thành tội phạm và hướng dẫn áp dụng. Tác giả Bùi Thanh Hằng tiếp cận việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung, lưu ý phải đánh giá đúng tình tiết giảm nhẹ và vai trò đồng phạm. Phạm Hải Anh tập trung đề xuất tăng tính linh hoạt của chính sách xử lý nhằm khuyến khích khắc phục và thu hồi tài sản. Các hướng nghiên cứu này là cơ sở tham khảo để xem xét sự tương xứng giữa trách nhiệm cá nhân và hiệu quả phục hồi tài sản. Ba công trình trên tiếp cận lần lượt ranh giới hình sự hóa, điều kiện quyết định hình phạt và định hướng chính sách. Từ các kết quả đó, bài viết đi sâu vào cách ghi nhận khoản khắc phục chung đối với từng cá nhân khi đối chiếu pháp luật chung với cơ chế đặc thù mới.[1]

Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là khi một chủ thể khắc phục toàn bộ thiệt hại, dữ kiện nào được ghi nhận chung và điều kiện nào phải chứng minh riêng? Bài viết sử dụng phân tích quy phạm, đối chiếu pháp luật và phân tích tình huống; phạm vi là trách nhiệm của cá nhân trong vụ án kinh tế có nhiều người bị buộc tội. Trách nhiệm của pháp nhân thương mại được đề cập trong quan hệ với nguồn tiền khắc phục. Cách tiếp cận được đề xuất nhằm tổ chức đánh giá chứng cứ, không tạo thêm căn cứ miễn trách nhiệm. Các văn bản và tài liệu được rà soát đến ngày 11/10/2026.

2. Cơ sở pháp lý của việc ghi nhận khắc phục hậu quả

2.1. Cá thể hóa trách nhiệm và phạm vi trách nhiệm trong đồng phạm

Trách nhiệm hình sự gắn với hành vi và lỗi của chủ thể cụ thể. Điều 17 Bộ luật Hình sự phân biệt vai trò đồng phạm và quy định người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành. Điều 58 yêu cầu cân nhắc tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm thuộc người nào chỉ áp dụng đối với người đó. Cá thể hóa trách nhiệm vì vậy không đồng nghĩa với chia đều hậu quả, cũng không đồng nghĩa với chỉ quy trách nhiệm cho mỗi người theo số tiền họ trực tiếp nhận.[2]

Trong trường hợp cùng cố ý thực hiện một tội phạm, việc xác định trách nhiệm phải căn cứ phạm vi tham gia và ý chí chung, đối chiếu cấu thành tội phạm cụ thể. Một người giúp sức không trực tiếp nhận tài sản vẫn có thể phải chịu trách nhiệm đối với tội phạm chung. Ngược lại, chức danh hoặc sự có mặt trong chuỗi quản trị chưa đủ chứng minh đồng phạm. Chỉ sau khi xác định đúng phạm vi trách nhiệm mới có thể xem xét tác động của việc khắc phục và các căn cứ có lợi cho từng người.

Cần phân biệt việc xác định căn cứ truy cứu, xem xét loại trừ hoặc miễn trách nhiệm và quyết định hình phạt. Khắc phục không thay thế việc chứng minh tội phạm và không tự động quyết định hệ quả pháp lý. Khoản tiền nộp sau khi hành vi xảy ra không làm thay đổi hồi tố trạng thái lỗi.

2.2. Khắc phục theo pháp luật chung và chính sách phát triển kinh tế tư nhân

Điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ghi nhận tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ. Điều 29 có các căn cứ miễn trách nhiệm riêng; việc khắc phục không phải một căn cứ độc lập cho phép miễn trách nhiệm đối với mọi tội phạm. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 29 còn ràng buộc loại tội phạm, lỗi, sự tự nguyện hòa giải và đề nghị của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp. Vì vậy, phải xác định đúng chế định trước khi đánh giá khoản tiền khắc phục.[3]

Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ghi nhận việc người phạm tội đồng ý để người khác bồi thường; mức giảm nhẹ phụ thuộc sự chủ động, tích cực và hiệu quả khắc phục. Không thể yêu cầu mọi khoản tiền đều từ tài sản riêng của người phạm tội; cũng không thể bỏ qua mối liên hệ giữa việc nộp tiền và ý chí của người được xem xét.[4]

Điều 5 Nghị quyết số 198/2025/QH15 yêu cầu phân định các loại trách nhiệm, ưu tiên biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính đối với vi phạm, vụ việc dân sự, kinh tế; với vi phạm đến mức xử lý hình sự, việc khắc phục chủ động, kịp thời, toàn diện là căn cứ quan trọng để xem xét trong quá trình tố tụng. “Căn cứ quan trọng” không đồng nghĩa với căn cứ duy nhất, càng không thay thế điều kiện của từng chế định trong Bộ luật Hình sự.[5]

Bộ luật Tố tụng hình sự đặt trách nhiệm chứng minh tội phạm lên cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các vấn đề phải chứng minh bao gồm tình tiết có lợi, căn cứ loại trừ và miễn trách nhiệm; chứng cứ phải được đánh giá khách quan, toàn diện. Luật sư có thể cung cấp chứng từ, dữ liệu dự án, đề nghị xác minh, nhưng việc chưa cung cấp đủ tài liệu không cho phép mặc nhiên kết luận bất lợi. Ngược lại, một chứng từ nộp tiền cũng chưa đủ chứng minh mọi điều kiện để hưởng chính sách.[6]

2.3. Phân biệt các cơ chế tại Nghị quyết số 37/2026/QH16

Nghị quyết số 37/2026/QH16 cần được đọc theo từng căn cứ và giai đoạn tố tụng. Điều 5 quy định điều kiện không truy cứu; Điều 8 dẫn chiếu chính các điều kiện tại Điều 5 để quyết định miễn trách nhiệm trong quá trình giải quyết nguồn tin, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Vì vậy, không thể coi Điều 8 là một bộ điều kiện miễn độc lập hoặc dễ đáp ứng hơn Điều 5. Điều 6 điều chỉnh loại trừ trách nhiệm trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Điều 7 điều chỉnh tạm hoãn để khắc phục; Điều 9 xác định quyết định tố tụng tương ứng, còn Điều 10 áp dụng đối với trường hợp đã có bản án.[7]

Điều 5 yêu cầu đồng thời: không tham nhũng; vì lợi ích chung; hoạt động đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm theo quy định; không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc đã khắc phục toàn bộ. Điều 7 áp dụng khi có thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, không tham nhũng, vì lợi ích chung và hoạt động đang thực hiện đáp ứng điều kiện khắc phục khả thi. Khắc phục là một thành tố trong từng cơ chế, không thay thế các thành tố khác. Khoản 3 Điều 4 xác định hậu quả thiệt hại là hậu quả vật chất.[8]

2.4. Giới hạn về mục đích, phạm vi và thời điểm áp dụng

Khoản 1 Điều 4 yêu cầu việc không tham nhũng được cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng văn bản; khoản 2 xác định lợi ích chung không bao gồm lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và động cơ vụ lợi. Không nhận tiền chưa đủ chứng minh vì lợi ích chung; việc tạo ra lợi nhuận kinh doanh hợp pháp cũng không tự nó chứng minh động cơ vụ lợi. Cần đối chiếu mục tiêu quyết định, quan hệ lợi ích và quá trình thực hiện, tránh suy đoán từ một dữ kiện đơn lẻ.[9]

Khi xác định phạm vi áp dụng, cần đối chiếu lĩnh vực, bản chất hành vi và các giới hạn của Nghị quyết, thay vì chỉ nhìn tên tội danh. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/9/2026 và được thực hiện trong ba năm; vi phạm kinh tế liên quan đến đất đai được dẫn chiếu sang Nghị quyết số 29/2026/QH16. Đồng thời, không được dùng Nghị quyết để xem xét lại bản án đã có hiệu lực trái với nguyên tắc tại khoản 5 Điều 3; cơ chế sau bản án phải được xem xét theo quy định riêng. Khi đánh giá thời điểm vi phạm và phạm vi rà soát, cần đối chiếu thêm khoản 2, khoản 3 Điều 13, không suy ra mọi hành vi xảy ra trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực đều thuộc diện áp dụng.[10]

3. Khắc phục chung và điều kiện áp dụng đối với từng cá nhân

3.1. Phân biệt kết quả phục hồi tài sản và hành vi khắc phục của cá nhân

Hậu quả vật chất đã được phục hồi không xóa bỏ hành vi và lỗi đã xảy ra. Tuy nhiên, khi áp dụng Nghị quyết số 37/2026/QH16, không nên bổ sung một điều kiện ngoài văn bản về việc phải khôi phục toàn bộ niềm tin công cộng. Tổn hại đối với trật tự quản lý và tính liêm chính phải được xem xét trong căn cứ pháp lý thích hợp, nhất là điều kiện không tham nhũng và vì lợi ích chung. Cách phân định này vừa ghi nhận đúng tài sản đã phục hồi, vừa giữ nguyên việc kiểm tra giới hạn của chính sách.

Ở phương diện phục hồi tài sản, cần xác định phần thiệt hại nào đã được bồi thường, tài sản nào đã thu hồi và nghĩa vụ nào còn tồn tại. Ở phương diện cá nhân, cần làm rõ ai tự nguyện thực hiện, ai đồng ý để người khác nộp, ai tổ chức việc khắc phục và căn cứ nào cho phép ghi nhận. Số tiền có thể được nộp chung, nhưng điều kiện giảm nhẹ theo Điều 51 và điều kiện của cơ chế đặc thù không vì thế trở thành điều kiện chung cho tất cả.

Khả năng tài chính khác nhau không cho phép phủ nhận tình tiết giảm nhẹ được luật ghi nhận. Người chủ mưu hoặc có động cơ vụ lợi vẫn có thể được giảm nhẹ theo Bộ luật Hình sự dù không đủ điều kiện của cơ chế đặc thù. Người không có khả năng nộp tiền vẫn phải được đánh giá đúng vai trò, lỗi và tình tiết có lợi.

3.2. Khắc phục do pháp nhân hoặc người khác thực hiện

Nghị quyết số 37/2026/QH16 ghi nhận việc khắc phục do tổ chức, cá nhân vi phạm và chủ thể có lợi ích trực tiếp thực hiện. Cần xác định người nộp thực hiện nghĩa vụ của chính họ, nộp thay hay đóng góp tự nguyện. Mục đích là làm rõ hệ quả pháp lý, không tạo thêm điều kiện ngoài Nghị quyết.[11]

Khoản tiền pháp nhân nộp có thể chứng minh thiệt hại đã được phục hồi nhưng chưa tự chứng minh mỗi người quản lý tự nguyện khắc phục. Để áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51, cần đối chiếu khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP và chứng cứ về sự đồng ý, chủ động của người được xem xét. Quyết định chi tiền của pháp nhân, nội dung chuyển tiền và tài liệu về việc nộp thay giúp xác định mối liên hệ ấy. Không nên chỉ dựa vào tên người chuyển tiền, cũng không mặc nhiên coi tiền của doanh nghiệp là tài sản riêng của người quản lý.[12]

3.3. Một người khắc phục toàn bộ thiệt hại trong vụ án có đồng phạm

Khi một người nộp đủ tiền, phải xác nhận thiệt hại nào đã được bù đắp và nghĩa vụ nào đã chấm dứt. Kết quả đó không tự chứng minh các đồng phạm khác tự nguyện khắc phục. Với cơ chế đặc thù, bài viết đề xuất ghi nhận kết quả phục hồi ở phạm vi vụ việc, đồng thời kiểm tra riêng hành vi, mục đích và điều kiện của từng người. Căn cứ của đề xuất là khoản 4 Điều 4 cho phép nhiều chủ thể thực hiện khắc phục, kết hợp nguyên tắc đánh giá vai trò, động cơ, mục đích tại khoản 2 Điều 3. Cách hiểu này cần được hướng dẫn thống nhất.[13]

Không yêu cầu bồi thường lại cùng một thiệt hại không có nghĩa miễn mọi nghĩa vụ tài sản khác. Hoàn trả lợi ích bất hợp pháp, án phí hoặc nghĩa vụ chưa được thực hiện phải được xác định theo căn cứ riêng. Ngược lại, tài sản đã phục hồi không cho phép bỏ qua điều kiện cá nhân để áp dụng chính sách cho tất cả.

4. Phân tích thực tiễn được công bố và tình huống minh họa

Nghiên cứu của Bùi Thanh Hằng công bố một vụ án tham ô đã ẩn danh, trong đó các bị cáo có tình tiết khắc phục nhưng vai trò chính hoặc thực hành tích cực không đáp ứng điều kiện dành cho người giúp sức không đáng kể; việc cấp phúc thẩm giảm xuống dưới hai khung bị tác giả phê bình. Ví dụ này cho thấy tình tiết khắc phục không thay thế điều kiện về vai trò. Do nguồn không cung cấp số bản án, ví dụ được sử dụng trong phạm vi phân tích thực tiễn đã công bố, không làm căn cứ cho kết luận về xu hướng xét xử.[14]

Tài liệu trên phản ánh pháp luật và thực tiễn trước Nghị quyết số 37/2026/QH16, không chứng minh kết quả áp dụng Nghị quyết mới. Giá trị tham khảo là yêu cầu xác định đúng căn cứ của mỗi hệ quả pháp lý. Các tình huống dưới đây do tác giả xây dựng để kiểm tra cách giải thích, không phải dữ liệu vụ án thực tế.

Tình huống thứ nhất: doanh nghiệp có ba người quản lý bị xem xét trách nhiệm liên quan đến một quyết định đầu tư. Doanh nghiệp đã nộp đủ khoản thiệt hại vật chất được xác định. Hồ sơ cho thấy người thứ nhất nhận khoản lợi ích bất hợp pháp, người thứ hai có tài liệu chứng minh mục đích vì lợi ích chung, người thứ ba mới chỉ được xác định là người ký theo phân công. Kết quả nộp tiền phải được kiểm tra về phạm vi và hiệu lực phục hồi. Người thứ nhất không thể lấy kết quả đó thay cho điều kiện về mục đích, nhưng vẫn được xem xét giảm nhẹ theo pháp luật chung nếu có căn cứ. Người thứ hai chưa đương nhiên được miễn trách nhiệm vì còn các điều kiện khác. Với người thứ ba, phải xác định hành vi và lỗi trước khi bàn đến chính sách; không được dùng việc doanh nghiệp nộp tiền như sự thừa nhận tội của mọi người quản lý.

Tình huống thứ hai: A và B cùng cố ý thực hiện một tội phạm gây thiệt hại đã được xác định. A nộp toàn bộ tiền khắc phục, B không có điều kiện tài chính. Không thể chỉ vì B chưa nộp tiền mà đánh giá B có vai trò nặng hơn; cũng không thể chỉ vì A nộp đủ mà kết luận A có lỗi nhẹ hơn. Việc ghi nhận tình tiết khắc phục cho từng người phải đối chiếu Điều 51 và hướng dẫn; nếu xem xét cơ chế đặc thù thì phải kiểm tra đầy đủ điều kiện của cơ chế đó. Một dữ kiện khách quan có thể được dùng trong đánh giá nhiều cá nhân, nhưng không làm mất yêu cầu lập luận riêng.

Tình huống thứ ba: dự án đang thực hiện, có phương án khắc phục nhưng chưa hoàn thành. Cam kết góp tiền của nhà đầu tư là chứng cứ về khả năng thực hiện, không tương đương với thiệt hại đã được phục hồi. Khi xem xét tạm hoãn, cần đối chiếu riêng điều kiện về loại tài sản bị thất thoát, nguyên nhân khách quan, tính khả thi và cơ chế giám sát. Nếu chỉ nhìn số tiền cam kết mà bỏ qua khả năng thực hiện, việc khuyến khích khắc phục có thể trở thành trì hoãn xử lý. Đây là nguy cơ cần phòng ngừa bằng kiểm chứng, chưa phải kết luận về thực trạng áp dụng.[15]

5. Kiến nghị hướng dẫn và tổ chức áp dụng

5.1. Làm rõ cách ghi nhận khắc phục trong vụ án có đồng phạm

Quyết định số 1916/QĐ-TTg ngày 02/10/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 37/2026/QH16, trong đó đặt ra nhiệm vụ xây dựng văn bản hướng dẫn các cơ chế về hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự. Nội dung cần hướng dẫn trước hết là cách ghi nhận khắc phục do một người, pháp nhân hoặc chủ thể hưởng lợi trực tiếp thực hiện trong vụ án nhiều người.[16]

Hướng dẫn nên xác định rõ phạm vi thiệt hại đã phục hồi, căn cứ tiếp nhận và đối trừ khoản tiền; tách điều kiện về kết quả khắc phục khỏi điều kiện gắn với cá nhân. Với khoản nộp thay, cần làm rõ chứng cứ liên hệ với người được xem xét giảm nhẹ. Với cơ chế đặc thù, cần hướng dẫn cách ghi nhận kết quả chung mà vẫn kiểm tra riêng điều kiện của từng người. Việc hướng dẫn phải nằm trong thẩm quyền tại Điều 13, không bổ sung điều kiện bắt buộc mỗi người nộp riêng khi cùng thiệt hại đã được bù đắp.[17]

5.2. Chuẩn hóa chứng cứ theo vấn đề cần chứng minh

Đề xuất chuẩn hóa hồ sơ nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra chứng cứ, không chuyển nghĩa vụ chứng minh tội phạm sang người bị buộc tội. Tài liệu cần được tổ chức theo câu hỏi pháp lý: thiệt hại nào đã được khắc phục; chủ thể nào thực hiện và trên căn cứ nào; người được xem xét có sự tự nguyện, đồng ý hay đóng góp gì; điều kiện nào của cơ chế đặc thù đã được chứng minh. Cùng một chứng từ có thể chứng minh việc nộp tiền nhưng không chứng minh được mục đích của quyết định trước đó.

Chứng cứ về mục đích cần ưu tiên hồ sơ hình thành khi quyết định và thực hiện hành vi: đề xuất, cảnh báo rủi ro, phương án thay thế, dữ liệu phê duyệt và giao dịch liên quan. Báo cáo hiệu quả dự án sau đó chứng minh kết quả vận hành, không tự chứng minh động cơ ban đầu. Đối với phương án chưa hoàn tất, phải kiểm tra nguồn lực, tiến độ và khả năng thực hiện; việc giám sát, xử lý vi phạm cam kết cần đối chiếu khoản 5 Điều 9, thay vì chỉ tiếp nhận lời hứa khắc phục.[18]

5.3. Lập luận riêng khi áp dụng hoặc không áp dụng

Nên hướng dẫn trình bày căn cứ đối với từng người trong quyết định tố tụng tương ứng: cơ chế được xem xét; thiệt hại và kết quả khắc phục; điều kiện cá nhân; chứng cứ và lý do chấp nhận hoặc bác bỏ. Một hồ sơ chung có thể dùng tài liệu xác nhận phục hồi tài sản chung, nhưng phần kết luận phải giải thích hệ quả riêng. Đây là kiến nghị cụ thể hóa việc đánh giá chứng cứ, không khẳng định pháp luật đã có mẫu giải trình thống nhất. Cách trình bày này giúp kiểm sát, tranh tụng và kiểm tra quyết định.

Kết luận

Trong vụ án kinh tế có nhiều người bị buộc tội, kết quả khắc phục hậu quả và trách nhiệm hình sự có mối liên hệ nhưng không đồng nhất. Việc phục hồi tài sản cần được ghi nhận đúng phạm vi, còn hệ quả đối với cá nhân phải được xác định theo căn cứ của từng chế định. Không thể từ một khoản tiền đã nộp suy ra mọi người đều tự nguyện khắc phục hoặc đều đáp ứng điều kiện của chính sách đặc thù.

Cá thể hóa phải bảo đảm hai yêu cầu đồng thời: không đánh đồng người có vai trò, lỗi và mục đích khác nhau; không thu hẹp phạm vi trách nhiệm trong đồng phạm thành số tiền mỗi người trực tiếp nhận hoặc trực tiếp nộp. Người không đủ điều kiện được miễn vẫn có quyền được xem xét giảm nhẹ theo pháp luật; người được xem xét cơ chế đặc thù vẫn phải được kiểm tra đầy đủ các điều kiện độc lập.

Từ việc phân biệt kết quả phục hồi, căn cứ ghi nhận khắc phục cho cá nhân và điều kiện của cơ chế đặc thù, bài viết kiến nghị hướng dẫn khoản nộp thay, tổ chức chứng cứ theo từng vấn đề và lập luận riêng trong quyết định tố tụng. Phân tích dựa trên quy phạm và tình huống minh họa; cần tiếp tục kiểm chứng bằng quyết định, bản án công khai khi có dữ liệu áp dụng Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Tuyên bố đóng góp khoa học

Bài viết đề xuất phân biệt kết quả khắc phục chung, căn cứ ghi nhận khắc phục đối với cá nhân và điều kiện áp dụng cơ chế đặc thù; từ đó kiến nghị tổ chức chứng cứ và lập luận riêng cho từng người.

———————————–

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Thanh Hằng. “Những lưu ý khi kiểm sát việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.” Kiểm sát Online, 30 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11/10/2026. https://kiemsat.vn/nhung-luu-y-khi-kiem-sat-viec-quyet-dinh-hinh-phat-duoi-muc-thap-nhat-cua-khung-hinh-phat-63388.html.

2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự. https://nghean.toaan.gov.vn/webcenter/ShowProperty?nodeId=%2FUCMServer%2FTAND368345.

3. Lê Thị Vân Anh. “Phòng, tránh hình sự hóa các vi phạm trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hành chính ở Việt Nam từ năm 2015 đến nay – Một số đề xuất, kiến nghị.” Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 30 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 11/10/2026. https://danchuphapluat.vn/phong-tranh-hinh-su-hoa-cac-vi-pham-trong-linh-vuc-dan-su-kinh-te-hanh-chinh-o-viet-nam-tu-nam-2015-den-nay-mot-so-de-xuat-kien-nghi-4270.html.

4. Phạm Hải Anh. “Hoàn thiện chính sách hình sự đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế.” Kiểm sát Online, 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 11/10/2026. https://kiemsat.vn/hoan-thien-chinh-sach-hinh-su-doi-voi-toi-pham-xam-pham-trat-tu-quan-ly-kinh-te-va-toi-pham-chuc-vu-lien-quan-den-kinh-te-73690.html.


[1] Lê Thị Vân Anh, “Phòng, tránh hình sự hóa các vi phạm trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hành chính ở Việt Nam từ năm 2015 đến nay – Một số đề xuất, kiến nghị,” Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 30 tháng 9 năm 2023, truy cập ngày 11/10/2026, https://danchuphapluat.vn/phong-tranh-hinh-su-hoa-cac-vi-pham-trong-linh-vuc-dan-su-kinh-te-hanh-chinh-o-viet-nam-tu-nam-2015-den-nay-mot-so-de-xuat-kien-nghi-4270.html, phần 2 và phần 3; Bùi Thanh Hằng, “Những lưu ý khi kiểm sát việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt,” Kiểm sát Online, 30 tháng 3 năm 2022, truy cập ngày 11/10/2026, https://kiemsat.vn/nhung-luu-y-khi-kiem-sat-viec-quyet-dinh-hinh-phat-duoi-muc-thap-nhat-cua-khung-hinh-phat-63388.html, mục “Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm”; Phạm Hải Anh, “Hoàn thiện chính sách hình sự đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế,” Kiểm sát Online, 24 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 11/10/2026, https://kiemsat.vn/hoan-thien-chinh-sach-hinh-su-doi-voi-toi-pham-xam-pham-trat-tu-quan-ly-kinh-te-va-toi-pham-chuc-vu-lien-quan-den-kinh-te-73690.html, phần 2 và phần 3.

[2] Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung; nội dung tra cứu tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 5/9/2025, Điều 17, Điều 50 và Điều 58.

[3] Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung, Điều 29 và điểm b khoản 1 Điều 51.

[4] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 2.

[5] Quốc hội, Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 5.

[6] Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung, Điều 13, Điều 15, khoản 6 Điều 85 và Điều 108.

[7] Quốc hội, Nghị quyết số 37/2026/QH16 ngày 24 tháng 8 năm 2026 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, các điều 5–10.

[8] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 3 Điều 4, Điều 5 và Điều 7.

[9] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 1 và khoản 2 Điều 4.

[10] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 5 Điều 3, Điều 10, Điều 12 và khoản 2, khoản 3 Điều 13.

[11] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 4 Điều 4.

[12] Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, khoản 2 Điều 2.

[13] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 2 Điều 3 và khoản 4 Điều 4.

[14] Bùi Thanh Hằng, “Những lưu ý khi kiểm sát việc quyết định hình phạt”, mục “Vi phạm trong áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015”.

[15] Nghị quyết số 37/2026/QH16, Điều 7 và khoản 3, khoản 5 Điều 9.

[16] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1916/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 37/2026/QH16, Kế hoạch kèm theo.

[17] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 1 Điều 13.

[18] Nghị quyết số 37/2026/QH16, khoản 5 Điều 9.

Luật sư Phan Khắc Nghiêm
Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế.
Email: nghiempk@gmail.com